Tinh thần khoa học

Khi đọc được những dòng văn về “tinh thần khoa học” trong tác phẩm “Luân lý học” của Trần-Đức-Huynh và Trần-Văn-Hiển-Minh (Tủ sách Ra Khơi, năm 1966) mình thấy rất rõ sự tương đồng giữa “tinh thần khoa học” và “tinh thần khởi nghiệp”, “tinh thần kinh doanh”, “tinh thần làm việc” hay rất nhiều loại “tinh thần” khác. Nói là “tinh thần khoa học” nhưng cách mà hai tác giả này đặt vấn đề và diễn giải có thể nhìn thấy ở rất nhiều lĩnh vực khác ngoài khoa học; và vì thế, theo mình, phạm vi ý nghĩa của “tinh thần khoa học” cũng mở rộng được sang những lĩnh vực khác. Hãy xem hai tác giả đã viết gì nhé.

Theo dõi những phương-pháp phát-minh (qui-nạp) và phương-pháp chứng-minh (diễn-dịch) của khoa-học, người bình thường cũng có thể hiểu được đối-tượng khoa-học.

Nhưng khoa-học không phải chỉ có vấn-đề phương-pháp, mà còn đòi ở nhà bác-học những đức-tính, những khuynh-hướng, nếu thiếu nó, thì phương-pháp có hay đến đâu cũng vô ích. Vì thế, Tinh-thần Khoa-học là thái-độ của tư-tưởng trong nhận-thức khoa-học, nó gồm những đức-tính giúp nhà bác-học thành-công trong việc phát-minh và chứng-minh cho chân-lý Khoa-học. Các đức tính ấy thuộc hai loại: đức tính tinh-thần và đức tính luân-lý.

1. Đức-tính trí-thức của tinh-thần khoa-học

a) Tính tò-mò

Tò-mò không phải là say mê quá độ mà là sự cởi mở tinh-thần khiến nhà bác-học hăng hái muốn theo đuổi sự nghiên-cứu và không ngừng lại ở những nhận thức đã thu lượm được. Nó còn là nhu-cầu tìm-hiểu để thỏa mãn sự khát khao hiểu biết. Bayet coi tính tò mò có thể biến việc sưu-tầm khoa-học thành hứng-thú liên-miên đến nỗi từ bỏ được thái-độ thụ-động tinh-thần, không thỏa-mãn với những tư-tưởng đã có sẵn. Bachelard nói: “Con người có tinh-thần khoa-học muốn biết để học hỏi nhiều hơn”. Tính tò-mò rất lợi để thiết-lập các sự-kiện.

b) Óc sáng-kiến và tưởng-tượng rất cần để đặt ra các giả-thuyết trong khoa-học.

c) Óc Hình-học và chặt-chẽ để điều khiển sự diễn-dịch cho đúng đường.

d) Óc tinh-vi (finesse) và khéo-léo để điều-khiển sự kiểm chứng thực-nghiệm.

e) Óc phê-bình

Phê-bình là phán đoán cho đúng, tách cái đúng ra ngoài cái sai.

Áp-dụng vào khoa-học, phê-bình biểu lộ trong sự tìm kiếm những bằng chứng trừu-tượng hay thực-nghiệm có thể lôi kéo hay khắc phục lý-trí. Pasteur khuyên các môn sinh

“Đừng bao giờ đưa ra ý kiến, nếu các bạn chưa thể chứng minh một cách đơn sơ và chắc chắn; tôi muốn nói, các bạn hãy tôn trọng óc phê-bình, không có nó, mọi cái đều huyền-hoặc”

nghĩa là các nhà bác-học có thể và phải đánh dấu hỏi vào các thuyết-lý, giải-thuyết, thí-nghiệm, để bảo đảm giá trị của chúng một cách chắc chắn hơn. Nói rõ thêm, ta nên bắt chước thái độ hoài-nghi khoa-học của Descartes, phải dè dặt, phải suy nghĩ mỗi khi đứng trước những tư-tưởng xác suất hay mới là hình bóng sự thật, chứ chưa có bảo đảm chân-lý. Claude Bernard viết rất đúng

“Kẻ theo hoài nghi là người không tin khoa-học mà chỉ tin ở mình, họ quá tin mình đến chỗ dám chối khoa-học. Còn người hoài-nghi mới đúng là nhà bác-học. Họ chỉ nghi ngờ chính mình và những lời giải thích của họ, nhưng lại tin khoa-học.

f) Kiến-thức

Kiến-thức chuyên-môn dĩ nhiên là cần rồi, vì thiếu nó, thì nghiên-cứu khoa-học thế nào được. Nhưng kiến-thức tổng-quát cũng cần, nếu không có nó, nhà bác-học bị đóng khung trong chuyên-môn sẽ xét đoán một cách hẹp hòi về các phạm-vi triết-học, tôn-giáo, thẩm-mỹ, chính-tri, Có nhiều người vừa là Bác-học, vừa là Triết-gia như Descartes, Pascal, Leibniz, hoặc nhiều nhà Bác-học có quan tâm đến vấn đề Triết như Claude Bernard, H.Poincare, Albert Einstein, Louis de Broglie, cũng như có nhiều Triết-gia thắc mắc và theo dõi khoa-học để cắt nghĩa như Brunchvicg, Russel, Meyerson, Bachelard, Bergson.

2. Những đức-tính luân-lý của tinh-thần khoa-học

a) Vô-vị-lợi

Vô-vị-lợi ở đây tức là đức hy-sinh khiến nhà bác-học không tìm kiếm danh lợi, tiền tài trong khi nghiên-cứu khoa-học, chỉ làm vì tôn-trọng chân-lý. H. Pioncare viết:

“Các nhà bác-học phải rửng rưng với danh-vọng, khi người ta được hân hạnh đưa ra một khám phá, có lẽ ngoài cái thỏa mãn được đặt tên mình cho nó, nhà bác học chỉ vui sướng được chiêm ngưỡng chân lý tận mặt một lúc”.

Tuy thế, tính vô vị lợi không cấm nhà bác học tiếp nhận danh giá, vinh dự và những hậu quả xã-hội do thiên tài đưa đến. Cũng không có nghĩa là phải đề nhà bác học trong tình trạng thiếu thốn. Trái lại, phải cấp ngân khoản dồi dào cho họ tìm tòi thêm cả trong phạm vi suy lý và phạm-vi thực-tế kỹ-nghệ, y-tế, …

b) Tính ngay thẳng

Thành thực đòi cho được bằng chứng mới tin, không ngoan trong việc phê-bình, không quyết về điều nào chưa đủ điều kiện chứng minh. Nhà hóa học Rayleigh thử đi thử lại các thí-nghiệm ròng rã 20 năm trước khi công bố khám phá ra khi Argon. Kepler đã thử qua 19 giả-thuyết mởi khám phá ra các hành tinh chạy vòng dục chung quanh mặt trời. Newton tìm ra sức hấp dẫn của vạn vật đã thú nhận:

“Nếu những nghiên cứu của tôi đã đưa lại vài kết quả hữu ích, là nhờ tôi cố-gắng làm việc và nhẫn nại suy nghĩ … Tôi luôn luôn nắm giữ vấn đề khảo-sát trước mặt và chờ những tia sáng đầu tiên hé mở dần, mỗi khi một ít, cho đến lúc chúng biến thành một luồng ánh sáng rõ ràng, đầy đủ”.

c) Can đảm

Trước đây, người ta đề cao lòng can đảm như điều kiện cần cho nhà khảo cứu vì họ sẽ gặp nhiều thất bại. Người ta trưng ra nhiều trường hợp: những nhà vật lý điều khiển quan tuyến X bị nó ăn cụt tay, những nhà thám hiểm núi cao, rừng rậm không sợ thú dữ, thổ-dân, gian-lao, khí-độc. Ông Le Gentil, muốn quan-sát kim-tinh qua mặt trời năm 1761, phải sang Pondicheri (Ấn-Độ). Khi tới nơi, tỉnh ấy đã rơi vào tay người Anh, không lên được, đành đi quan sát chỗ khác, 8 năm sau lên được. Nhưng khi quan-sát, thì bị một đám mây che lấp, bấy giờ ông mới chịu thôi. Nhà bác-học Nhật, bác sĩ Toshio Aoki đã uống cà-phê có chất Strontium 85 để nghiên cứu phản ứng của chất phóng xạ và thử sức phản ứng của con người đối với chất đó. Theo nhà bác-học Charles Noel martin thì Aoki thí-nghiệm như thế, đã tự giảm thọ đi 5 năm. Tuy thế, ngày nay với đà tiến triển của kỹ-thuật, những nguy hiểm thường gặp trong khi sưu-tầm bớt đi nhiều. Cho nên can-đảm đây, nghĩa là: can-đảm trong lý-trí, dám bỏ ý riêng, để thử đi thử lại các khám phá của mình đến cùng, dù có tạm thời phải từ bỏ hy vọng thành-công. Tycho-Brahe, nhà thiên văn Đan-Mạch đem hết gia tài để xây một thiên-văn-đài, suốt 20 năm quan-sát về thiên-văn, mà không thành công. Về sau, Kepler, một cộng sự viên của ông mới khám phá ra quỹ-đạo Hỏa-tinh. Agassiz, nhà Vạn vật học Thụy-sĩ đã thu thập 27.000 vỏ trai để so sánh và nghiên cứu về vỏ trai loại Neretma. Bác sĩ Kaneo Sakurai thuộc viện bào chế Nhật đã phát minh ra thuốc 687 để chữa bệnh ung thư. Dùng chất nitrogene làm căn bản, thuốc 687 có thể diệt những tế bào ung thư mà không làm hại tế bào lành mạnh. Đặt tên thuốc là 786 vì ông phải thí nghiệm 687 lần mới khám phá ra được.

Khi ta còn xem khoa-học như là cái gì đó xa vời, không gắn với thực tiễn và giữ mãi cái định kiến này mà không thực sự tìm hiểu, ta có thể cho rằng khoa học chẳng liên quan đến những lĩnh vực khác. Tuy nhiên, như ta có thể thấy, những “đức tính trí thức” và “đức tính luân lý” trên dù ở lĩnh vực nào cũng thật cần thiết. Trước đây, mình cũng từng đưa ra một so sánh nhỏ giữa “nghiên cứu khoa học” và chuyện (khởi sự) kinh doanh, cũng rất nhiều điểm tương đồng đã được chỉ ra. Những cố gắng phân tích như thế, như cách mà hai tác giả nói trong “Luận-lý-học”, là cách mình đang chứng minh rằng mọi sự đều có liên quan với nhau, nhưng sự chia chẻ quá đà làm ta chẳng nhận ra, và cũng sự quá đà này còn làm ta coi thường những điều đáng coi trọng như “nghiên cứu khoa học”, “kỹ năng học” chẳng hạn.

Lớp học Cọp Giấy, trong bài viết năm ngoái qua, có 2 câu mà mình đồng tình, rằng

  • Là HS-SV suốt gần 16 năm, mà kỹ năng học không có thì còn có kỹ năng gì nữa đây?
  • Bạn chỉ cần #personalskill để thăng tiến bản thân, #interpersonalskill để kết nối được với người xung quanh, #transferableskill để chuyển hoá hết những gì bạn đã được hấp thụ để tạo ra một giá trị nào đó, và cuối cùng là #studyskill 

Trong khi bạn tìm kiếm bên ngoài rất nhiều điều, bạn cố gắng gặp rất nhiều người, nghe rất nhiều chuyện nhưng có bao giờ bạn thực sự

  • Rèn tính tò mò
  • Rèn óc sáng-kiến và tưởng-tượng
  • Rèn óc Hình-học và chặt-chẽ
  • Rèn óc tinh-vi (finesse) và khéo-léo
  • Rèn Óc phê-bình
  • Trang bị Kiến-thức
  • Vô vị lợi
  • Ngay thẳng
  • Can đảm

Nếu chưa bạn có thể bắt đầu rèn những đức tính của nhà khoa học như trên. Có lúc nào đấy bạn hoài nghi về mình, hãy nhớ thêm mấy ý từ Lớp học Cọp Giấy. Sẽ rất hữu ích đấy 🙂

Minh Nhật

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

Powered by WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: