Tư duy phản biện – mãnh lực của sự tao nhã

Ghi chép ở buổi chia sẻ của thầy Bùi Văn Nam Sơn (CN/19/04/2015) về Tư duy phản biện

ĐỊNH NGHĨA TỪ “PHẢN BIỆN”

Từ gốc “critical thinking” – được google translate định nghĩa là “the objective analysis and evaluation of an issue in order to form a judgment.” Còn L.Elder và R.Paul định nghĩa là “Critical thinking…the awakening of the intellect to the study of itself.”

Thầy Sơn có nói rằng: từ “critical thinking” dịch là tư duy phản biện hay tư duy phê phán là dịch nhầm. Từ “critical thinking” đã có từ thời Socrates, đến cuối thế kỉ XIX, thì được dịch ra tiếng Nhật, rồi qua Trung Quốc và đến Việt Nam. Người Nhật dịch là phê phán, sau thì có người dùng chữ phê bình. Sau này, người ta quy ước phê bình dành cho văn chương còn phê phán dành cho tư tưởng.

“Critical thinking” chẳng phải là phê phán hay phê bình, cũng không phải phản biện theo nghĩa là soi mói cái sai, chỉ ra lỗi sai của người khác hay lên án, lật lại một cái gì, hay lật đổ một học thuyết mà nó có nghĩa là biện biệt, phân biệt cái này cái nọ, làm rõ tư duy của bản thân ta. Ở đây chú ý rằng: “critical thinking” trước hết là cách suy nghĩ của cá nhân hay nói cách khác tư duy về tư duy của bản thân người tư duy. Người ta dùng “Critical thinking” để tự soi xét tư duy cá nhân, tự phê phán chính mình.

Có 2 điểm nhấn mà thầy thấy thầy Sơn nói rất rõ: “Critical thinking” chỉ là tư duy biện biệt và là tư duy của cá nhân.

Người ta hay nói khi con người sợ hãi là bắt đầu một nền văn minh, còn thầy Sơn nói khi con người khiêm nhường thì con người bắt đầu tư duy. Như Socrates từng nói “tôi chỉ biết có một cái duy nhất đó là tôi không biết gì cả”.

Thầy lấy ví dụ: giả sử ta học kinh tế, về lĩnh vực tự nhiên ta biết sơ sơ, khi ta gặp một chuyên gia về lĩnh vực tự nhiên thì ta không thể tỏ ra là mình hiểu biết được mà phải bắt đầu bằng tâm thế ta không biết gì cả. Chỉ khi đó, bạn mới bắt đầu học hỏi và tư duy về lĩnh vực bạn chưa rành [cụ thể là lĩnh vực tự nhiên]. Cho nên, bắt đầu của tư duy là sự khiêm nhường. Đó cũng chính là đặc điểm của dân tri thức, khoa học.

Khi học tập về tư duy, ta nên biết và phân biệt 5 loại văn bản (thầy Sơn nói là 5 loại nhưng khi ghi chép thì ghi được có 4 loại). Chữ văn bản ở đây thầy nghĩ các em có thể hiểu là bước. Các văn bản có thể hiểu là các bước: bước 1, bước 2, …

1/ Văn bản Mô tả sự việc

Loại này dựa trên cơ sở là thu thập thông tin. Đầu tiên, ta phải tập hợp tư liệu và thông tin rồi sau đó mới đến tái cấu trúc [văn bản 2]. Đây là kỹ năng cực kì khó. Ta thường thấy ở mấy anh cảnh sát giao thông về kĩ năng này.

2/ Văn bản Phân tích

Sau khi mô tả, thì đến quá trình tái cấu trúc, sắp xếp từng loại rành mạch

3/ Văn bản Khẳng định

Sau khi mô tả và phân tích thì đến quá trình khẳng định quan điểm cá nhân để thuyết phục người khác.

4/ Văn bản Phê phán

Sau khi người ta khẳng định ý kiến cá nhân thì đến bước so sánh với ý kiến khác. Nó thể hiện qua các từ “tuy nhiên”, “dẫu vậy”, …

Có thể sau khi so sánh với ý kiến khác thì ta thấy ý kiến của ta sai và ta chấp nhận ý kiến của người khác. Hoặc có thể ta thấy ý kiến của họ có phần đúng, ta tiếp thu một phần ý kiến của người khác. Việc này phải đến từ việc ta khiêm nhường và ta tranh luận với họ, chứ không phải giữ khư khư và bảo ý kiến ta là đúng, không nghe ý kiến ai khác.

Có người bảo khư khư ý kiến là kiên định. Thầy Sơn bảo như thế là hiểu sai chữ kiên định. Kiên định là kết quả của quá trình lắng nghe ý kiến, tự soi sét, tự xác nhận ý kiến của mình. Trong quá trình phê phán, nghĩa là ta phải so sánh, đối chiếu, phân biệt với ý kiến khác để cân nhắc ý kiến của mình và từ đó đi đến giá trị phổ quát của ý kiến của mình.

Điều quan trọng nhất cũng là cơ bản nhất của bước phê phán là ta phải ra được tư duy rành mạch, một sợi chỉ đỏ, phải sòng phẳng, chân thật.

TINH THẦN CỦA TƯ DUY PHẢN BIỆN

Một điều quan trọng của “critical thinking” là tôn trọng người khác. Thầy Sơn có nhắc đến một câu của kinh Phật mà thầy Sơn thấy ở một quán cơm chay. “Tôn trọng người khác là tự trang nghiêm cho chính mình”. Đây chính là tinh thần của tư duy phản biện.

Trang nghiêm là gì?

Trang nghiêm là cái gì ra cái nấy, ngay ngắn, cân bằng, hợp tình hợp lý, phải đúng vị trí, cân đối hài hòa.

TAO NHÃ

Cuối cùng thầy giải thích chữ “tao nhã” trong chủ đề mà thầy Sơn đề nghị “tư duy phản biện – mãnh lực của sự tao nhã”.

Tao là gì?

Tao là băn khoăn. Tao xuất phát từ tác phẩm LY TAO của Khuất Nguyên thời Đông Chu Liệt Quốc bên Trung Quốc.

Nhã là gì?

Nhã là mềm mại, dịu dàng, cân đối. Nhã xuất phát từ KINH THI với 2 phần trong đó là ĐẠI NHÃ và TIỂU NHÃ.

Tao nhã là sự băn khoăn mềm mại.

Bao lâu anh không băn khoăn thì anh đừng làm khoa học. Ta phải luôn cảnh giác, có thể người khác đúng thì sao. Truyện kiếm hiệp có câu: núi Thái Sơn trước mắt mà không thấy, không có mắt xanh để nhìn ý kiến khác.

Nói như thế thì khi ta tư duy phản biện thì ta không được phẫn nộ à?

Thầy Sơn nói: phẫn nộ là cần thiết để ta không nhu nhược, ba phải nhưng ta vẫn phải giữ được tinh thần tao nhã-băn khoăn mềm mại của tư duy phản biện. Khi ta phẫn nộ thì rất có thể ta sẽ gây ra vết thương cho người khác. Nếu muốn vết thương không thành sẹo thì phải có sự nhã-mềm mại trong việc tiếp thu ý kiến, có tình có lý, trang nghiêm. Tránh voi chẳng xấu mặt nào.

Nói tóm lại, tư duy phản biện sẽ dẫn ta đến sự tao nhã, khiêm nhượng, cẩn trọng, tôn trọng người khác.

Mục đích để tạo ra môi trường sinh hoạt cho tư duy phản biện thì kì cùng là tạo ra cộng đồng tương giao. Ở nơi đó, có sự hợp tác, thông cảm, nói đơn giản là có thể nói chuyện được với nhau.

Có hai loại sinh hoạt: 1 là sinh hoạt chiến lược. Đó là nơi mà tư duy chiến chiến lược, có tính toán được sử dụng. 2 là sinh hoạt tương giao. Đó là nơi thanh thản, có thể tha thứ, đoàn kết, hòa nhã, mềm mại, học hỏi lẫn nhau.

Xã hội dân chủ phải dựa trên những con người được đào tạo về tư duy phản biện. Đó là tư duy làm trang nghiêm chính mình và xã hội mình. Một xã hội lộn xộn, bát nháo thì sẽ dẫn đến bạo lực, kích động và tất nhiên sẽ dẫn đến đổ vỡ, máu và nước mắt.

HỎI VÀ ĐÁP

Câu 1 : Câu hỏi là gì ?

  1. cái muốn hỏi – chuyện anh muốn hỏi : anh chưa biết thì mới hỏi ?
  2. nơi muốn hỏi – hỏi ai, hỏi nơi nào [hỏi lúc nào] ? hỏi [đúng lúc] đúng chỗ ?
  3. bộc lộ ra một câu trả lời thỏa mãn hay chưa thỏa mãn- để từ đó có thể dừng việc hỏi khi đã thỏa mãn hay có thể hỏi tiếp nếu chưa thỏa mãn. Phần này thầy Sơn sử dụng cách phân tích của Heidegger.

Câu 2 : Thứ tự đọc 6 quyển sách trong bộ sách tư duy phản biện?

  1. Tư duy phản biện
  2. Đặt câu hỏi bản chất – câu hỏi còn quan trọng hơn câu trả lời
  3. Tư duy phân tích
  4. Tư duy viết – viết lại 1 đoạn văn bằng ngôn ngữ của cá nhân mình – tập dượt thao tác khoa học – chặt chẽ – có lý lẽ – hợp tình hợp lý.
  5. Tư duy đọc
  6. Tư duy học tập và nghiên cứu

 

Người ghi: Diên Bình
Nguồn: Facebook anh Nguyễn Việt Anh, sáng lập Chương trình Học N.G.U
(*) Bài viết có biên tập lại để dễ theo dõi và lược bớt từ lặp.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

Powered by WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: