Tóm lược sách: Creative Schools (2015)

Trường học sáng tạo (Creative Schools, 2015) là một hướng dẫn để chuyển đổi giáo dục. Những ý tưởng trong sách phân tích mọi ngóc ngách của giáo dục từ lịch sử giáo dục đến những nhu cầu thiết yếu của người học. Sách cũng chỉ ra những cách để tất cả chúng ta có thể giúp cho trẻ nhỏ học tập được những gì chúng cần để thành công trong thế giới thay đổi chóng mặt như hiện nay.

Ai nên đọc

  • Giáo viên, sinh viên và phụ huynh
  • Bất kì ai quan tâm đến giáo dục
  • Bất kì ai muốn biết cách dạy mới thực sự chuẩn bị cho trẻ để đối mặt với những thách thức to lớn

Tác giả sách

Ken Robinson là người viết sách, một diễn giả quốc tế và là nhà tư vấn giáo dục. Ông dạy sư phạm tại trường Đại học Warwick và tham vấn cho Chính phủ Vương quốc Anh về nghệ thuật trong trường học. Năm 2006, ông có một bài nói chuyện được nhiều lượt xem nhất ở TED Talk có tên “Trường học đã giết chết sáng tạo như thế nào”.

Lou Aronica là một biên tập viên người Mỹ và một người làm xuất bản. Bà đã có bốn tiểu thuyết và là đồng tác giả của vài cuốn sách dạng tả thực.

Đọc tóm lược sách trực tiếp tại Blinkist: Creative Schools (2015)

Có gì trong cuốn sách này? Hãy cùng tham gia cuộc cách mạng “trường học sáng tạo”

Tất cả trẻ em đều yêu thích học tập. Điều này đã có sẵn trong bản chất của các em rồi. Vậy thì cớ gì nhiều trẻ em kinh sợ trường học đến vậy? Và trường học có đáng bị như thế không?

Những điều làm trẻ con ghét trường học ngày nay có thể truy nguyên về buổi đầu của giáo dục chính quy (formal education). Như ta sẽ thấy trong những phần sau, trường học truyền thống chưa bao giờ có ý là nơi học tập vui vẻ và sáng tạo.

May thay, có một hướng đi cho cách tiếp cận cũ kĩ này, đó là trường học sáng tạo. Thuật ngữ này không mô tả trường học với nhiều giờ học về nghệ thuật hơn so với các bài học toán hay văn phạm. Thay vào đó, đó là cách tiếp cận học tập bằng một góc nhìn hoàn toàn khác, bằng cách tránh những giờ học nghiêm khắc với quá nhiều hướng dẫn và thường xuyên có đánh giá, và thử tạo ra môi trường học lý tưởng cho từng học sinh. Mọi người đều học, kể cả giảng viên, phụ huynh và chính những người làm việc trong môi trường ấy.

Sau đây, ta sẽ cùng nắm bắt

  • Thế quái nào trường học lại trông giống như chuồng heo;
  • Điều mà một máy tính trong khu ổ chuột ở Ấn Độ có thể kể ta biết về giáo dục;
  • Một trường học với toàn bộ hoạt động do học sinh điều hành trông sẽ như thế nào.

Giáo dục chính quy được định hình bởi nhu cầu của ngành công nghiệp

Có bao giờ ta tự hỏi trường học hiện đại được hình thành ra sao? Hẳn là chúng không bắt nguồn như một cách để khuyến khích tính độc đáo, sự sáng tạo và tài năng của từng cá nhân người học. Thay vào đó, trường học truyền thống là kết quả của nhu cầu chuyển tải kiến thức đã được tiêu chuẩn hóa (standardized knowledge) cho người trẻ để họ có thể làm việc ở các công xưởng.

Trường học hiện đại nổi lên cùng với cuộc Cách mạng Công nghiệp trong thế kỉ XVIII và XIX.

Trước giai đoạn này, chỉ có giới quý tộc mới nhận được giáo dục chính quy. Nhưng điều này đã thay đổi khi các ngành công nghiệp mới bùng phát, cần nhân công có những kỹ năng cơ bản như khả năng đọc, làm toán đơn giản và hiểu những thông số kỹ thuật.

Vì thế, chính quyền Tây phương bắt đầu tổ chức giáo dục đại trà với một mục đích duy nhất, tạo ra những công nhân hữu dụng cho các công xưởng. Khi sản xuất công nghiệp dựa vào luật lệ, sự tuân thủ và sản xuất tuyến tính (linear processes), giáo dục đã dựa trên những nhu cầu này. Thực tế, các trường học đã thiết kế để ít nhiều giống như các công xưởng.

Mô hình này tiếp tục cho tới ngày nay và truyền thống này cũng sống khỏe với những thay đổi liên tục của các chuẩn mực, ở đó mọi nỗ lực nhằm tạo ra lực lượng lao động cho quốc gia nhưng có tính canh tranh quốc tế bằng cách giữ cho giáo dục tuân theo những tiêu chuẩn, hướng dẫn của doanh nghiệp. Cùng lúc này, mô hình STEM (Science, Technology, Engineering, Math), tức khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học bắt đầu được ưa chuộng, bất chất năng lực và sở thích của người học.

Nhưng sự chuyển biến này do đâu mà có?

Nó bắt đầu vào những năm 1980 nhưng nổi lên khoảng năm 2000, khi vài nước Tây phơng như Hoa Kỳ, Vương Quốc Anh và Đức có thành tích PISA (Program for International Student Assement) quá tệ.

Quá sốc bởi kết quả tệ hại, những nước này tìm kiếm cách để nâng cao thành tích cho người học nước họ. Nhưng, thay vì đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân người học, một lần nữa, họ lại lên kế hoạch giáo dục như một nhà máy có hiệu suất cao, thiết lập một cách chính xác một người học ở cấp lớp xác định nên học gì và học như thế nào, cùng với đó là đánh giá quá trình không qua các bài kiểm tra năng lực.

Điều này nghĩa là, chẳng hạn ở lớp 9, tất cả người học sẽ đều biết kiến thức cơ bản của số học và phải chứng tỏ khả năng của họ qua một bài thi toàn quốc.

Một nền giáo dục bị chuẩn hóa quá mức là vấn đề thực sự khó sửa chữa

Nếu ta đưa một thiết bị kỹ thuật số hoàn toàn mới và chưa được biết đên cho vài người bạn, ta sẽ thấy rằng mỗi người sẽ có một cách tiếp cận có chút khác nhau với thiết bị này. Vài người có thể bắt đầu đọc tờ hướng dẫn, trong khi những người khác sẽ lên internet để tìm kiếm thêm thông tin và lúc đó, những người khác nữa có thể đã mở nó lên và thử chơi với nó rồi. Ý ở đây là, cũng chừng đó chừng họ có thể nghĩ khác, con người không thể bị chuẩn hóa, và giáo dục cũng vậy.

Sau cùng, từ thử nghiệm nhỏ trên, rất rõ ràng là bạn của ta không học cùng một cách và học sinh thì cũng thế. Nhưng trường học đối xử với các em cứ như thể chúng giống nhau. Ví dụ, tất cả trẻ con đều được kỳ vọng học bằng cách ngồi trong lớp và lắng nghe giáo viên giảng bài, kể cả cách này không phù hợp với cách học của từng em đi nữa.

Không chỉ thế, không phải người học nào cũng có mức học như nhau ở tất cả các môn dù ở cùng độ tuổi. Một vài có thể giỏi hơn trong môn toán, nhưng gặp khó khăn với việc tập đọc, số khác lại có thể ngược lại. Dù vậy, người học vẫn cứ bị nhóm theo độ tuổi, không phải theo năng lực của chúng.

Ta biết thực tế như vậy nên chẳng có gì phải ngạc nhiên khi bước chuyển của tiêu chuẩn cũng không nâng cao được thành tích giáo dục lên chút nào. Sau cùng thì một nền giáo dục hoàn toàn dựa vào các bài tập và bài thi sẽ phá hỏng sự sáng tạo của người học và làm chúng mất kết nối với việc học. Khi đó, những người học này khó mà học tốt.

Trong năm 2012, 17% học sinh tốt nghiệp trung học Mỹ không thể đọc và viết thành thạo, và 21% những người thuộc độ tuổi từ 18 đến 24 không thể chỉ được vị trí Thái Bình Dương trên bản đồ.

Hơn thế nữa, người học với những kỹ năng nằm ngoài chương trình chính khóa, như những người có đôi tay khéo léo hay giọng hát tuyệt vời có thể trở nên nản lòng bởi những bài đánh giá liên miên do sự đòi hỏi của các tiêu chuẩn kia.

Kết quả là, họ có thể kết thúc trong thất nghiệp, tù tội và bị xa lánh khỏi xã hội. Tệ hơn, những học sinh có vị trí xã hội thấp hầu như sẽ thất bại trong hệ thống giáo dục hiện đại. Kể cả nếu chúng thành công thì ngày nay, một tấm bằng đại học cũng không đảm bảo được việc làm.

Vậy thì, rõ ràng là điều gì đó phải thay đổi.

Canh tác hữu cơ dựa trên bốn nguyên tắc có thể áp dụng dễ dàng vào giáo dục

Thật dễ cho rằng hệ thống giáo dục của chúng ta như công xưởng và cũng dễ thấy nó như một trang trại nuôi heo, ý là nói đến đầu ra. Ngay khi lũ heo đủ lớn, các nông trại này chẳng quan tâm chúng có bệnh hay không nữa, hay nông trại có gây hại môi trường hay không.

Và trong khi học sinh ngày nay không được vỗ béo lên chút nào, thì giáo dục đại trà lại toàn là câu chuyện về lợi tức (yield). Giáo dục nhưng lại quá tập trung vào kết quả kiểm tra và số lượng người tốt nghiệp mà “chuồng heo” này “sản xuất” ra.

Chúng ta đã thấy hệ thống này đang thất bại ra sao, nhưng có cái nào tốt hơn không?

Có lẽ, chúng ta có thể lấy cảm hứng từ việc canh tác hữu cơ với bốn nguyên tắc: Khỏe mạnh (Health), Thuận tự nhiên (Ecology), Công bằng (Fairness) và Quan tâm (Care).

Ví dụ, một hệ thống dựa trên 4 nguyên tắc trên được thiết kế để cải thiện đời sống của những bên liên quan bao gồm những chú heo, người lao động và người tiêu dùng. Nhưng nó cũng dựa trên hệ thống sinh thái và làm việc trong sự hòa hợp với hệ thống này. Nghĩa là cây trồng sẽ sinh trưởng tuân theo vòng tuần hoàn của tự nhiên.

Vì canh tác hữu cơ được lập nên dựa trên Công bằng và Quan tâm, nó hướng tới việc mang lại những điều kiện sống tốt cho thế hệ hiện tại và tương lai.

Khi ứng dụng vào giáo dục, những nguyên tắc này vận hành rất trơn tru. Đó là vì, trong khi giáo dục truyền thống tập trung ưu tiên vào thành tích, cho dù là trong học thuật hay thể thao, trường học hữu cơ (organic schools) quan tâm đến sự phát triển toàn diện của người học về thể lực, cảm xúc, trí tuệ.

Không chỉ có vậy, giáo dục hữu cơ (organic education) cũng dựa trên hệ thống sinh thái của cộng đồng trường học để thúc đẩy năng lực của từng người học. Trường tiểu học Grange tại Nottingham đang vận hành như một thị trấn bởi chính học sinh ở đó. Trong trường tiểu học này có một hội đồng, tờ báo và kể cả chợ thực phẩm. Khi học sinh làm việc tại trường học và tương tác với nhau, chúng học hỏi và rèn luyện được nhiều năng lực cùng lúc, từ kỹ năng xã hội đến số học.

Hơn nữa, giáo dục hữu cơ công bằng vì nó trân trọng tất cả người học chứ không chỉ những tài năng học thuật. Và cuối cùng, giáo viên và người hướng dẫn (mentors) đối xử với học sinh một cách bao dung nhằm mang đến điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của các em. Hay nói cách khác, họ chăm sóc các em với sự quan tâm thực sự.

Nhưng điều gì xảy ra nếu ta là một giáo viên ở trường chưa có tính hữu cơ như vậy? Mỗi giáo viên có thể làm gì để chắc rằng học sinh của họ học hỏi trong khi duy trì được tính tò mò và phát triển khả năng sáng tạo của mình? Phần tiếp theo sẽ giải đáp những câu hỏi này.

Trẻ con, một cách tự nhiên, đã là người học và vai trò của giáo viên là hướng dẫn các em

Nếu bạn bước vào một lớp học bình thường, bạn sẽ thấy học sinh trông chán ngán với bất kì thứ gì ta nói với chúng. Trong khi cảnh này có vẻ quen thuộc đến mức bình thường, nó đáng ra không nên như thế. Bởi, mọi trẻ em là những người học bẩm sinh (natural born learner).

Trẻ con luôn háo hức được khám phá thế giới và sẵn sàng đón bất kì cái gì mới mà các em với được. Các em cũng lanh lẹ với ngôn ngữ và thường thành thạo vào lúc lên hai hay ba.

Sự ham thích học hỏi này diễn tiến rất tốt qua cả thời thơ ấu. Điều này đã đượcminh học bởi Sugata Mitra, giáo sư môn công nghệ giáo dục (educational technology) tại Đại học Newcastle vào năm 199, khi ông lắp đặt một chiếc máy tính lên từng tại một khu ổ chuột ở Ấn Độ và quan sát phản ứng của trẻ con ở đó. Giao diện máy tính chỉ toàn tiếng Anh, loại ngôn ngữ lạ lẫm với chúng, nhưng chỉ trong vài giờ, những đứa trẻ đã biết cách sử dụng bàn điều khiển để chơi games và ghi âm bài hát.

Vậy thì, trẻ con được thừa hưởng óc tò mò và tùy vào giáo viên mà óc tò mò này có được tiếp tục khơi lên hay bị vùi dập. Ở đây, ta có thể nghĩ giáo viên như người làm vườn. Anh này không thể ép buộc trẻ phải phát triển, nhưng anh ta có thể nuôi dưỡng thiên hướng tự nhiên của đứa trẻ và để chúng lớn cùng với nó.

Dưới đây là cách làm.

Trước tiên, anh ta nên để các em gắn kết bằng cách khai thác óc tò mò, sáng tạo và sự hào hứng của chúng để thành thục những kỹ năng mới. Một cách mà giáo viên có thể làm nữa là nhắm vào sở thích của trẻ. Ví dụ, trẻ yêu thích bóng chày sẽ thích thú với vật lý nếu em có thể dùng nó để tính toán đâu là cáhc tốt nhất để làm 1 cú đánh vòng.

Nhưng đó không phải là tất cả. Những kỳ vọng và mối quan hệ của giáo viên với học sinh cũng quan trọng không kém. Bởi vì, một học sinh sẽ học hành chăm chỉ hơn nếu giáo viên em yêu quý cũng mong ở em điều này.

Hơn hết, một giáo viên giỏi cần hiểu rằng mỗi học sinh cần những cách hướng dẫn khác nhau. Ví dụ, huấn luyện viên bóng rổ có thể nhận ra một học sinh cần được chỉ dẫn cách ném bóng hơn là chỉ mô tả cách làm.

Cuối cùng, giáo viên cần trao quyền cho học sinh để chúng có thêm tự tin ở mình bằng cách chỉ cho các em thấy chúng có thể đối mặt với khó khăn, với những tình huống không chắc chắn nếu chúng giữ được sự bình tĩnh, tự tin và sáng tạo.

Trường học nên trang bị học sinh tám năng lực lõi, bắt đầu với sự tò mò, sáng tạo và phê bình

Khi tiếp cận giáo dục, điều quan trọng cần cân nhắc là chúng ta muốn trẻ con học gì. Cho đến nay, chúng ta đã trả lời câu hỏi này với một danh sách dài từ Pháp văn đến Đại số. Nhưng để hướng dẫn học sinh cho cuộc sống sau này, chúng ta cần dạy các em những năng lực, không phải môn học.

Tương lai là bất định và không có cách nào ta biết được liệu những môn học hiện tại có giúp ích được gì cho các em trong tương lai hay không. Vì vậy, chiến lược tốt hơn là dạy các em những kỹ năng cho phép các em học điều các em cần để đối mặt với bất kì tình huống kinh tế, xã hội nào em sẽ gặp trong đời.

Điều này thật sự đơn giản và đòi hỏi trường học dạy các em tám năng lực lõi (core competencies), “the 8 Cs”. Đầu tiên là sự tò mò (Curiosity), đức tính mà ta biết các em luôn dồi dào. Công việc của trường học là phát triển tính tò mò tự nhiên (the natural inquisitiveness) của các em bằng cách khuyến khích các em chú ý đến thế giới xung quanh và đặt câu hỏi cho những điều chúng tìm thấy.

Tiếp theo, trường học cần khuyến khích sự sáng tạo (Creativity), hay khả năng tạo lập ý tưởng mới và đưa chúng vào thực tiễn. Từ các hoạt động tạo ra chữ viết cho đến sự nổi lên của internet, sự sáng tạo luôn là tâm điểm của mọi bước tiến văn hóa. Tiếp đó, nó trở nên càng quan trọng khi học sinh ngày nay phải đối mặt với nhiều tình huống phức tạp hơn và chúng chỉ có thể giải quyết một cách sáng tạo mới được.

Năng lực thứ ba liên quan đến sự quá tải thông tin mà ta gặp phải, nó đòi hỏi khả năng nhận ra sự thật trong ý kiến và tách thông tin liên quan khỏi thông tin nhiễu. Vì thế, giáo viên cần thiết dạy trẻ năng lực phê bình (criticism), hay khao khát đặt câu hỏi cho bất kì dữ liệu nào các em thấy và đưa ra được kết luận từ đó.

Năm năng lực lõi giúp học sinh trở thành những thành viên tốt trong nhóm và những công dân tốt

Ta mong chờ và xứng đáng nhận được kết quả tốt từ trường học của mình. Vậy làm sao để ta có được kết quả tốt ấy?

Giáo dục có bốn chức năng như sau:

Thứ nhất, nó cá nhân hóa lợi ích người học bằng cách giúp họ tạo dựng tài năng cá nhân. Thứ hai, nó thúc đẩy nền kinh tế bằng cách tạo ra nguồn nhân lực sáng tạo, chất lượng cao. Thứ ba, nó giúp thế hệ trẻ hiểu về văn hóa của họ và trân trọng văn hóa của người khác. Cuối cùng, trường học cũng đi liền với nhiệm vụ tạo ra những công dân bao dung và có trách nhiệm.

Nhưng học sinh của ta không thể hoàn thành những chức năng trên nếu không được phát triển các năng lực khác nữa. Vì thế năng lực giao tiếp (Communication) trở nên quan trọng. Khả năng diễn đạt chính mình là chìa khóa, nó đi xa hơn các kỹ năng viết lách. Năng lực này bao gồm khả năng nói rõ ràng, tự tin trước công chúng và khả năng chuyển tải thông tin qua những hình thức như nghệ thuật và âm nhạc.

Bên cạnh đó, sẽ là thiếu sót nó bỏ qua năng lực cộng tác (Collaborate). Những trường tốt sẽ cho học sinh cơ hội làm việc trong các nhóm dự án nơi chúng học cách tổ chức, thỏa hiệp và giải quyết xung đột.

Một năng lực thiết yếu nữa cần dạy cho học sinh là tình thương (Compassion), hay khả năng thấu cảm dành cho người khác. Đó là vì một đứa trẻ biết cảm thông sẽ không bắt nạt trẻ khác vì em biết bắt nạt là xấu và cũng không muốn chính mình chịu nỗi đau ấy.

Các em cũng cần được dạy về sự điềm tĩnh (Composure) bằng cách thiền tập và các hoạt động thực hành chánh niệm khác nhằm giúp em kết nối với những xúc cảm của mình và thiết lập được cân bằng nội tại.

Và cuối cùng, trong khi trường học truyền thống có thể dạy những khía cạnh lý thuyết của chính trị, như tranh cử vận hành ra sao, thì điều cần thiết hơn là hãy dạy về quyền công dân (Citizenship). Điều này sẽ giúp học sinh phản đối bất công và dùng chính trị để mang lại lợi ích cho cộng đồng của mình. Đây cũng chính là ý tưởng tại trường tiểu học Grange, nơi học sinh tự điều hành hội đồng thị trấn của các em.

Ai cũng có thể đóng góp cải tiến trường học

Giáo dục không chỉ là trường học, giáo viên và học sinh. Một cách tự nhiên, hiệu trưởng trường học cũng tham gia hình thành môi trường học tập.

Những hiệu trưởng sáng tạo không chỉ quản lý trường học, họ cùng dẫn dắt với tầm nhìn và tìm kiếm những cách thức mới để cải tiến trường của họ. Như Richard Gerver, ông trở thành hiệu trường của trường tiểu học Grange với có một tầm nhìn và bắt tay vào chuyển đổi trường học thành Grangeton, một mô hình thị trấn điều hành bởi học sinh. Ông muốn các em được học thông qua những hoạt động trong thực tế.

Như thế, tầm nhìn của người hiệu trưởng có thể tạo nên một mục tiêu chia sẻ (shared purpose). Mọi người trong cộng đồng trường học sẽ thấy rằng những hành động mỗi người cũng họ đang đóng góp vào một mục tiêu lớn hơn. Hơn thế, những hiệu trưởng giỏi cũng làm việc chăm chỉ để mời mọi người đến trường và chia sẻ các ý tưởng để cùng xây dựng cộng đồng và cho thấy họ thực sự có ảnh hưởng đến vấn đề.

Nhưng hiệu trưởng không phải là người duy nhất có thể định hình tầm nhìn của giáo dục; những nhà hoạch định chính sách cũng có thể cải tiến trường học. Thực ra, trường họ có thể cải tiến kể cả trong giới hạn hạn hẹp của cấu trúc chính trị hiện thời.

Tuy nhiên, những nhà hoạch định chính sách sẽ cần hợp tác với trường học và cộng đồng. Dĩ nhiên, họ cần giao sự tự chủ và nguồn lực cần thiết cho trường học để mỗi trường học có thể tự chuyển hóa chính mình.

Ví dụ, học sinh ở Nam Carolina đang đi chậm hơn so với mức trong bình quốc gia về đọc hiểu và toán học, với 1/4 học sinh không tốt nghiệp trung học sau 4 năm học thông thường. Sau đó, năm 2012, một nhóm người làm giáo dục tiếp cận Ban giáo dục của bang để nhờ cậy.

Những nhà chính trị đã mang lại New Carolina, một tổ chức tư vấn phi lợi nhuận, và hỏi những người trong cộng đồng như giáo viên, phụ huynh và giới chức thành phố rằng họ muốn trường học thay đổi ra sao. Rất đông tham gia đóng góp ý tưogr và cùng nhau đồng ý một danh sách những cách để thay đổi giáo dục và hiện đang được đưa lên để thông qua ở toàn bang. Sự cộng tác rộng lớn này là cần thiết nếu chúng ta muốn thay đổi trường học hiện tại.

KẾT

Thông điệp chính của cuốn sách

Giáo dục truyền thống chỉ toàn về tối đa hóa hiệu quả nhưng nó lại không hiệu quả. Cuối cùng thì, con người là từng cá nhân, và phương pháp giảng dạy cần được cá nhân hóa. Chúng ta cần hệ thống giáo dục khuyến khích bản tính tò mà và những năng lực thiên phú của các em.

Minh Nhật
dịch theo Blinkist

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Powered by WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: