Ngôn ngữ và sai lầm trong cách nghĩ (*)

Vì đâu mà sai lầm trong tư tưởng?

Tư tưởng mà sai lầm phần nhiều cũng do nơi định nghĩa không rạch ròi những lời lẽ qua lại. Người ta nói một đàng, mình hiểu một ngả. Hoặc mình muốn nói một đàng, lại viết hoặc nói một ngả, là tại “danh từ” dùng không được đích đáng.

Người ta hiểu mình được, hay mình hiểu người ta được, nghĩa là, mình nói ra mà muốn kẻ khác đừng hiểu lầm, hoặc người ta nói ra mà muốn cho mình đừng hiểu lầm, cũng nhờ nơi “danh từ” dùng đúng theo cái nghĩa của nó.

Muốn tư tưởng cho đúng đắn, trước hết cần phải biết rõ cái điều mình nói và để ý thật kỹ đến sự dùng ngôn ngữ cho được thích đáng. Những câu văn hàm hồ hay không định nghĩa, là một trong nhiều nguyên nhân gây lắm sự sai lầm cho tư tưởng.

Dùng chữ, phải coi chừng đừng dùng chữ cũ với một nghĩa mới. Ta thường tưởng lầm rằng mình tha hồ muốn dùng chữ gì thì dùng, miễn mình đừng quên định nghĩa nó theo cái nghĩa riêng của mình muốn dùng là được. Sự thật đâu có dễ dàng như thế. Ta quên rằng một chữ mà đã dùng quen lâu đời, nó không khác nào một cái cây, gốc rễ đã ăn sâu vào tiềm thức của con người rồi, dầu có định nghĩa nó lại cẩn thận đến đâu, cũng không làm sao thay đổi được sức khêu gợi của nó. Các nhà triết học, vì thiếu chữ, nên thường dùng những chữ, trùng với cái nghĩa của phần đông đã dùng, để biểu diễn ý tưởng sâu sắc hơn hoặc thiển cận hơn. Mặc dầu họ đã không quên định nghĩa lại những chữ họ dùng, theo nghĩa mới của họ, họ vẫn làm cho độc giả hiểu lầm họ mãi. Vậy đọc sách triết học, kẻ đọc sách có phương pháp, bao giờ cũng lo tìm hiểu cái định nghĩa riêng biệt về danh từ của mỗi triết gia trước hết. Những kẻ cẩu thả, cứ hiểu theo cái nghĩa thông thườngm là hiểu sái xa với nguyên ý của tác giả. Tỉ như, cũng thời chữ “cách vật” mà Châu Hi hiểu khác, Vương Dương Minh hiểu khác. Đọc sách Vương Dương Minh mà không để ý tìm hiểu trước cái định nghĩa riêng biệt của những chữ thông dùng, của ông, là không thể hiểu ông được, vì chữ ông dùng tuy toàn lấy trong Đại Học, nhưng cái nghĩa của ông muốn nói thì lại khác với cái định nghĩa của Đại Học theo Châu Hi, nghĩa là theo phần đông học giả học theo cái học truyền thống. Cũng như đọc Lão Tử mà không rõ được cái định nghĩa những chủ thường dùng của Lão Tử, như Vô vi, Tự nhiên; Thiên, Đạo, Đức, … thì không bao giờ hiểu được Lão Tử hoặc có tự cho là hiểu đi nữa, thì chắc chắn là hiểu sai rồi. Vì chữ của Lão Tử dùng không cùng một nghĩa với đồng thời. Và cũng vì lẽ ấy mà Lão học là cái học người ta thường hiểu lầm hơn hết. Tôi thấy có lắm học giả nước ta còn lầm tưởng Lão học là cái học thần quyền, là vì họ hiểu lầm chữ Thiên của Lão Tử là chỉ về đáng Thượng Đế của phái thần quyền.

“Không định nghĩa, không biết định nghĩa, bao giờ cũng là một điều bất lợi cho sự truyền đạt tư tưởng và cảm tình. Người nói người viết phải luống cuống mà không làm cho người nghe, người đọc hiểu hết ý, nếu thiếu sự định nghĩa vì một lẽ gì. Năm xưa có hai người tiếng tăm to ở xứ nầy cãi nhau mà không định nghĩa danh từ của mình dùng. Thành thử đờn nam mà hát bắc, nhắm đông mà xông tây, không đâu ăn vào đâu. Rốt cuộc ai giữ lẽ nấy, không ai ngã lẽ được ai; mà có lẽ hai bên cũng nghĩ giống nhau. Một đàng thì quyết rằng bọn đi học bên Pháp phần nhiều nên, một đàng thì quyết trái rằng bọn đi học bên Pháp hư là phần nhiều. “Nên hư” là nghĩa là sao, thời bên nào cũng không nói rõ. Tệ đoan ở chỗ đó, sự cãi nhau biết ngưng đậu ở bến bờ nào?”.

(Luận Tùng – Phan Văn Hùm)

Leibnitz bảo rất ngộ nghĩnh:

Tôi thiên về sự tin rằng hễ người ta càng suy cứu cho thấy triệt đến chỗ khuyết điểm của ngôn từ hơn nữa, thời một phần to những sự cãi cõ sẽ tự nó tiêu tan đi và con đừng trí thức hặc nữa có lẽ cả con đường hòa bình cũng sẽ mở rộng cho loài người”.

Andre Lalande, giáo sư triết học Sorbonne, chính vì muốn bổ thiên cứu tệ vấn đề nầy, tránh cho các nhà triết học khỏi cái nạn hiểu lầm cãi vã với nhau mới ra công viết thành bộ Vocabulaire technique et critique de la philosophie, đem phân tích ra từng nghĩa các chữ thường dùng trong triết học một cách rõ ràng tinh tế. Kẻ học triết học, không thể thiếu bộ sách căn bổn nầy được, nếu muốn tránh có sự hiểu lầm trong các danh từ triết học.

Tóm lại, người ta sở dĩ đã bị sai lầm vì ngôn ngữ đại khái do những duyên cớ sau đây:

  1. Dùng những chữ mà tự mình chưa hiểu thật rõ cái nghĩa rộng hẹp của nó như thế nào. Tỉ như, những chữ Tự Do, Bình Đẳng, Tiến Bộ, Văn Minh, … là những chữ người ta thường dùng nhất, thế mà nếu ta cắc cớ hỏi thử lại những kẻ dùng thường những chữ ấy, cái nghĩa thật của nó như thế nào, ta sẽ thấy phần nhiều ngơ ngác như kẻ lạc vào sa mạc. Đó là tại họ học thuộc lòng chữ, trước khi họ tìm hiểu cái nghĩa của chữ ấy.
  2. Dùng có một chữ, mà tự mình khi dùng theo nghĩa nầy, khi dùng theo nghĩa kia, hàm hồ lộn xộn, làm ho người nghe hay người đọc không hiểu mình muốn nói cái gì. Trong khi bút chiến, hoặc trong khi bàn cãi với nhau thường nếu ta để ý cho kỹ, sẽ thấy cùng một chữ mà kẻ thì dùng ngay nghĩa nầy, người thì dùng theo nghĩa kia, thành ra ai nói nấy nghe, không ai hiểu ai được. Vậy chữ thông dụng đương thời có nhiều nghĩa, mỗi khi dùng nó theo nghĩa nào, phải định nghĩa rạch ròi mới được.
  3. Dùng chữ “đã xưa rồi”, hay “ít dùng đến”, nhất là dùng những chứ ấy lại dùng theo nghĩa mới, mà không chịu định nghĩa lại cho rõ ràng.
  4. Những chữ “mới”, bất luận là chữ mình đặt ra hay của thiên hạ đặt ra, dùng nó mà không chịu định nghĩa, cũng là gây lắm việc sai lầm trong tưởng tượng.
  5. Dùng một cách quá lạm, những câu văn bóng dáng làm cho kẻ khác dễ bề lẫn lộn nghĩa đen với nghĩa bóng.

Nhưng định nghĩa, thì phải định nghĩa cách nào?

Trước hết, ta cần phải để ý tránh những lối nầy:

  1. Định nghĩa rộng quá hay hẹp quá
  2. Định nghĩa thừa, nghĩa là thêm nhiều chi tiết không cần thiết.
  3. Lấy vật nầy mà định nghĩa cho vật kia, mà không có vật nào được cắt nghĩa rõ ràng.
  4. Định nghĩa bằng một ẩn dụ.
  5. Định nghĩa bằng cách nói trái lại cái nghĩa của nó, như nói: “Thiện là gì? Là không làm việc ác” … “Tự Do là gì, là không nô lệ”, …

Biết được những lỗi trên đây, tức là biết được cái quy tắc của sự định nghĩa là như thế nào rồi. Quy tắc ấy có thể tóm lại trong ba điều kiện nầy:

  1. Định nghĩa cần phải đầy đủ: không đủ, không thiếu, nghĩa là ở trong một phạm vi rõ rệt.
  2. Nó phải vắn tắt, càng được vắn tắt chừng nào càng hay chừng nấy.
  3. Nó phải rõ ràng, vì nó chỉ dùng để cắt nghĩa trước hết.

Trích “Thuật tư tưởng”, Thu Giang NGUYỄN DUY CẦN

(*) tiêu đề tự đặt

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Powered by WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: