Sách 1wj | Những lởn vởn trong đầu và ý tưởng đã tới

Trong tầng hầm của gia đình, tôi thức dậy và sẵn sàng cho những thói quen buổi sáng của mình, nào là nhảy nhót lúc tắm, đánh răng, mặc đồ, tóm đại cái gì đấy cho vào bụng rồi ra khỏi nhà. Trước đó, tôi vứt cái áo khoác sang một bên, rồi chợt nhận ra tôi đã không còn phải đi học nữa. Và đây không phải là môt ngày bình thường. Đây là ngày, mà lần đầu tiên trong đời, tôi không phải đi học.

Một thời điểm nào đó, tôi đã từng sẵn sàng cho việc tốt nghiệp. Tôi muốn làm chuyện của mình, bắt đầu làm chuyện gì đó. Nhưng vấn đề là, thực ra, tôi chẳng biết chuyện-gì-đó là chuyện gì.

Cuộc đời của tôi dường như đã được sắp đặt sẵn. Quyết định lớn nhất mà tôi đưa ra xuất hiện mỗi 4 tháng, khi tôi dành cả giờ để xem lịch học, và hình dung mình sẽ làm gì vào kì học sắp tới. Các giáo viên tư vấn học đường ở trường bảo tôi về số tín chỉ cần hoàn thành, số khóa học cần tham gia để có được tấm bằng. Thời gian biểu cho tôi biết lúc nào phải đến trường. Các giáo viên thì cho tôi hay khi nào các bài luận đến lúc nộp. Nếu tôi chú ý học hành, họ sẽ bảo tôi bằng cách nào để có điểm cao. Tôi đã rất tập trung để có được điểm cao nhất mà chẳng quan tâm liệu tôi có thực sự học được điều gì hay không. Tôi được dạy để tập trung vào điểm số, và đưa cho giáo viên của tôi điều họ muốn. Đến cuối cùng, điểm số cao đưa tôi vào 1 trường Đại học tốt, và có lẽ sẽ cho tôi 1 công việc tốt. Điểm cao làm tôi trông có giá trị.

Mùa hè đến, tôi tận hưởng có tự do tự tại của mình, tôi cũng chẳng cảm thấy tội lỗi cho cái chuyện ở không, chẳng làm gì sất của mình. Chẳng việc gì phải lo lắng cho tương lai cả. Tôi có một kế hoạch không thể đơn giản hơn, lấy bằng đại học. Tôi quay lại trường học vào mùa thu, dành ra bốn tháng tiếp đó để kiếm tiền, tiệc tùng với bạn bè, thả mình vào những chuyến đi cuối tuần, sao cũng được, bởi nó chẳng quan trọng lắm. Chẳng việc gì phải căng thẳng cả, tệ lắm thì tôi cũng đã có công việc rồi. Đó là việc làm thêm mùa hè. Mà sau tất cả, thì tôi mới chỉ là một thằng sinh viên thôi mà.

Khi tôi tốt nghiệp, mọi thứ đều thay đổi. Tôi không còn là sinh viên nữa, tôi đột nhiên phải trả lời cho một câu hỏi kinh điển “Tôi làm gì để kiếm sống đây?”

Tôi muốn có được những điều vĩ đại, giúp đỡ mọi người, tạo ra sự khác biệt. Tôi muốn làm mọi thứ và xuất hiện khắp nơi. Tôi tham vọng lắm, nhưng tôi hoàn toàn không có một định hướng nào cả. Tôi chưa sẵn sàng cho chuyện bị quẳng vào một nơi rộng lớn nào đấy, nơi mà tôi phải tạo ra được cái gì đấy. Tôi đã nghĩ sự tự do chính là cái mà tôi từng mong mỏi, một cơ hội để đạt được các mục tiêu của mình, sống tràn đầy với những tiềm tàng, tài năng mà mọi người đã thấy ở tôi. Nhưng khi chẳng có khóa học hay ông giáo sư này chỉ cho tôi, tôi nghiệm rằng cái tự do này như là một sự thật tẻ ngắt trong đầy rẫy những hy vọng. Và lúc này là lúc tôi phải xác định được con đường của mình.

Nghĩ lại lúc ấy, tôi thấy mình may mắn khi có khá nhiều sự lựa chọn, trong khi nhiều người không hề có, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đi xuống. Nhưng tôi cũng thấy mình đang bị ngập ngụa trong những kỳ vọng, trông chờ của người khác và cả những ngờ vực ở bản thân.

Vài tháng sau khi mất chức ‘sinh viên’, tôi trở nên hoang mang, buồn chán. Tôi giật mình tỉnh giấc nhiều đêm và tự hỏi những câu hỏi lớn của cuộc đời mình, và tôi chẳng bao giờ tìm ra được câu trả lời thỏa đáng. Một tháng Bảy, tôi với vài người bạn thân đến căn nhà gỗ bên bờ biển của một người trong nhóm, nơi chúng tôi hay tụ tập mỗi năm. Tôi không cảm thấy vui vẻ chút nào. Phải thừa nhận là tôi muốn có thêm năng lượng để chạy thoát khỏi cái thực tại này. Tôi dạo bộ trên bãi cát một mình, và suy nghĩ về những chuyện lặp đi lặp lại trong cuộc đời mình. Tôi có thể thấy cả cuộc đời của tôi đã được sắp đặt sẵn:

Tôi về nhà sau giờ làm của một công việc theo giờ hành chính, rồi nấu bữa tối. Sau khi dọn dẹp, tôi có tí chút thời gian để nghỉ ngơi. Mệt nhoài sau ngày dài, tôi sẽ thả người trên sofa rồi chuyển kênh TV liên tục cho tới lúc đi ngủ, rồi tôi lại dậy và lặp lại những chuyện ấy vào những ngày kế tiếp. Tôi và đám bạn của mình sẽ vẫn giữ thói quen ra căn nhà bên bờ biên kia. Nhưng lúc ấy, chúng tôi sẽ nằm thườn ra tràng kỷ, nhìn lũ trẻ chạy lòng vòng vui đùa, xem lũ chó đào đất, rồi hồi tưởng lại những gì đã qua.

Nó không chỉ là cái ý tưởng về những chuyện sẽ lặp đi lặp lại ấy làm tôi sợ hãi, mà cả ý nghĩ về việc tôi không có được đam mê trong cuộc sống. Cuộc sống không có đam mê chẳng khác nào tìm những chuyện tầm phào làm cho qua ngày.

Để tìm kiếm câu trả lời cho mình, tôi quyết định đi du lịch. Tôi dành một năm rưỡi sau đó lúc lang thang khắp nơi, lúc ở nhà. Tôi du lịch bụi qua Châu Âu, Đông Nam Á, dạy tiếng Anh ở Thái Lan, rồi đến Quebec để học tiếng Pháp. Tôi không bao giờ ở đủ lâu ở một nơi để thấy rằng mình cần lên kế hoạch nhiều hơn một ngày.
Sự né tránh trở thành cơ chế tự vệ có điều kiện của tôi. Nếu cứ luôn xê dịch thế này, tôi sẽ chẳng có đủ thời gian để nghĩ đến những mong muốn làm chuyện gì đó cho cuộc đời mình. Ngay khi những câu hỏi ấy xuất hiện, tôi lại tiếp tục đi, những mong câu trả lời sẽ đến đâu đó trong hành trình này.

Đi du lịch dạy tôi rất nhiều về bản thân mình. Tôi gặp gỡ những nền văn hóa mới, gặp gỡ đủ thể loại người, và cũng buộc tôi phải bước ra khỏi vùng an toàn của mình mỗi ngày. Tôi học cách trân trọng những khoảnh khắc dù là nhỏ nhất, thời điểm mà cuộc sống trở nên đơn giản và vẻ đẹp trong mọi thứ xung quanh ta trở nên sáng rỡ, lấp lánh như kim cương. Trên đường đi, những người tôi gặp chấp nhận tôi là tôi của ngày hôm ấy, của thời điểm ấy. Và sự phiền toái gần như chắc chắn xảy đến là mỗi khi tôi về nhà gặp lại gia đình, bạn bè với những suy nghĩ như được lập trình sẵn về tôi và điều tôi đang làm. Ở nhà, thật dễ dàng để lại nằm ườn ra đấy, tiếp tục những việc thường ngày buồn tẻ và làm hài lòng những khuôn mặt thân thuộc kia.

Một dịp Giáng Sinh, một năm rưỡi sau khi tôi tốt nghiệp, tôi về nhà và nghiệm ra rằng du lịch chẳng thể mang lại cho tôi câu trả lời tôi tìm kiếm. Kì nghỉ lễ cũng là dịp tốt để chuẩn cho những thay đổi. Lúc này bạn bè và gia đình cũng đầy đủ và luôn có chuyện gì đó để làm.

Nhưng khi năm mới đến, bạn bè tôi trở về với cuộc sống thường nhật. Và tôi thì vẫn cứ thế, anh chàng hai mươi lăm tuổi, sống trông căn hầm của bố mẹ tôi, và vẫn chẳng có tí manh mối nào cho chuyện tôi muốn làm gì với cuộc đời mình. Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Tôi biết rằng, trừ khi muốn tiếp tục sống ở đây đến lúc ba mươi tuổi, còn khi tôi phải làm chuyện gì đấy.

Tôi nhớ lại bữa tối cũng gia đình vào năm cuối Đại học. Chị tôi, Natalie, đã đặt tôi một câu hỏi khó “Sean, vậy rốt cuộc em định làm gì sau khi tốt nghiệp?”

Sự im lặng bao trùm lên toàn bộ không gian khi cả nhà chờ đợi câu trả lời của tôi, hay ít nhất cũng là chờ xem tôi có ý kiến gì. Sự chần chừ của tôi được đáp lại bằng hàng tá những ý tưởng mà tôi nên làm bởi gia đình của mình. Mẹ bảo tôi đi dạy. Chị bảo tôi dùng tấm bằng ở trường kinh doanh để kiếm chân ở công ty nào đấy. Chỉ có bố là không có ý kiến nào cả. Bố vốn ít nói, và cả nhà đều im lặng khi bố bắt đầu khuyên bảo tôi:

“Sean, không quan trọng là con sẽ làm gì; hãy chắc rằng đó là điều mà con đam mê.”

Bố ngừng đôi chút rồi tiếp “Bố đã dành gần 60 năm cuộc đời mình mà chưa tìm ra bố đam mê chuyện gì, ngoài mẹ con.”

Bố tôi chưa bao giờ hài lòng với công việc. Năm 1976, khi vừa mới cưới, bố mẹ tôi đã phải rời bỏ Jamaica, nơi đang có những xung đột về chính trị và tội phạm gia tăng, để tìm đến một nơi an toàn hơn cho gia đình. Họ theo bạn bè đến Canada. Họ chưa bào giờ biết về Canada trước đó, và đất nước này, văn hóa này quá mới mẻ với họ. Họ có năm nghìn đô và cô con gái, chị tôi, đi cùng. Vì là gia đình mới nhập cư, bố tôi chỉ đơn giản là muốn có công việc tươm tất để có thể lo cho gia đình mái nhà và thức ăn. Bố phải chịu đựng hàng giờ công việc kế toán buổn tẻ, chán ngắt và tự tìm thấy hạnh phúc xen lẫn tự hào khi thấy tôi và chị tôi được ăn uống đầy đủ, có mái ấm để ở và được học hành đến nơi đến chốn.

Nhớ đến những hy sinh của bố, tôi nhắc lại lời tự hứa của mình tối hôm ấy sau bữa ăn rằng tôi sẽ tìm công việc mà tôi đam mê, điều mà tôi yêu thích làm. Và nếu một lúc nào đó tôi không còn cảm giác hài lòng với nó nữa, tôi sẽ thay đổi.

Tôi sẽ dành hầu hết thời gian của mình để làm việc, tôi nghĩ thế. Tôi không muốn dành thời gian để cứ mãi ao ước rằng giá như cuối tuần đến sớm, và đếm ngược đồng hồ đến 5 giờ chiều để nhấc mông khỏi chỗ làm. Tôi muốn mình luôn vui vẻ, hạnh phúc trong công việc. Tôi muốn trở thành một trong những kẻ sẵn sàng nói rằng “Tôi muốn làm việc này, kể cả không nhận được đồng nào.”

Với nguồn cảm hứng mới mẻ này, tôi lục tìm các công việc khác nhau trên mục tuyển dụng của báo. Rất nhiều ngành, nhiều vị trí trông thật hấp dẫn nhưng thật tình tôi chẳng biết công việc tôi muốn trông sẽ thế nào.

Và đó là lúc tôi nảy ra một ý tưởng.

Minh Nhật
Dịch từ sách “The one-week job project”
theo sự cho phép của tác giả Sean Aiken, cho mục đích phi lợi nhuận

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

Powered by WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: